“Cô bán cho con bánh mì ốp la, đừng bỏ nhiều ớt với rau nha!”
“Chú ơi, con mua một ổ bánh mì nhiều thịt, nhiều rau, không ớt nha chú!”
Hồi còn bé, mình ít khi ăn bánh mì, chủ yếu là ăn cơm nhà. Hiếm hoi lắm mẹ mới mua bánh mì cho mình ăn giữa buổi để lót dạ. Có những lúc, khi cầm ổ bánh mì trên tay, mình bâng quơ ngẫm nghĩ không biết lịch sử của bánh mì đã bắt nguồn như thế nào. Điều đó đã thôi thúc mình tìm hiểu trên sách, báo,… và chia sẻ trên huynhngoc.com.
1. Từ chiếc bánh baguette của Pháp
Sau khi tìm hiểu kha khá tài liệu khác nhau về ẩm thực, mình mới biết lịch sử của bánh mì bắt nguồn từ giữa thế kỷ 19. Trong cuộc chiến tranh xâm lược Đông Dương, thực dân Pháp đã mang bánh mì đến Việt Nam. Ban đầu tên bánh là baguette, hình dạng thuôn dài khoảng 80 cm và ruột bánh đặc hơn so với các loại bánh mì bây giờ nhiều.

Lúc ấy đâu phải ai cũng được ăn bánh baguette, chỉ có dân thượng lưu mới đủ điều kiện mua loại bánh này mà thôi. Bên cạnh đó, PGS.TS Phan An cho biết khi ấy người ta gọi bánh bằng cái tên khá xịn xò là “ổ bánh Tây”. Bất ngờ quá đúng không?
Nhằm đáp ứng nhu cầu của giới thượng lưu, người Pháp còn xây dựng các lò bánh mì gạch tại Việt Nam. Thế nhưng, công việc làm bánh mì vừa nặng nhọc, thu nhập lại thấp nên người Pháp không muốn làm nghề này. Chủ yếu các thợ làm bánh khi đó là người Việt Nam hoặc người Trung Quốc.
Nguyên liệu làm bánh chủ yếu gồm có bột, muối, men và nước. Có ba loại thợ: Thợ chính chịu trách nhiệm điều khiển quy trình sản xuất và kỹ thuật, thợ cân đảm nhận công việc chia và se bột và cuối cùng là thợ trộn bột.
Cho đến nửa đầu thế kỷ 20, món bánh baguette bắt đầu phổ biến tại Việt Nam và được nhiều người yêu thích. Sau khi thực dân Pháp rút lui, người miền Nam có quyền sử dụng nguyên liệu từ địa phương để tự do biến tấu các món ăn Pháp. Cách làm này cũng được người Việt áp dụng cho món mì Quảng. Bạn có thể đọc thêm ở bài viết: Bạn biết gì về lịch sử của mì Quảng? để hiểu rõ hơn.
Đọc thêm:
Khám phá 10 món ăn thời bao cấp của Việt Nam
Ấn tượng với 10 món ăn Việt Nam được thế giới vinh danh
Có gì thú vị về âm dương ngũ hành trong ẩm thực Việt Nam?
2. Và được phát triển không ngừng
Khi ấy, ông Ngọc – chủ tiệm bánh mì Hòa Mã nổi tiếng ở Sài Gòn thấy việc ăn bánh mì cùng bơ, thịt nguội, pate trên đĩa quá “rườm rà” và mất thời gian. Ông hiểu rằng đôi khi khách hàng họ còn chẳng có thời gian để ngồi nhâm nhi thưởng thức. Chính vì thế, ông bèn nghĩ ra cách làm ruột bánh rỗng hơn, rồi kẹp nhân vào bánh để người ta có thể mang đi và ăn bánh ở bất cứ nơi đâu.

Bên cạnh đó, để giá bánh mì “mềm” hơn, ông Ngọc bèn giảm kích cỡ của bánh xuống còn 20cm, đồng thời giảm bớt lượng thịt và cho thêm nhiều rau. Như vậỵ, bánh mì không còn là món ăn dành riêng cho người giàu nữa, mà bất kỳ ai cũng có thể thưởng thức được.
Thế rồi, những chiếc bánh mì bắt đầu lan ra khắp các ngõ ngách ở Sài Gòn. Các tiệm bánh mì khác tại đây nhanh chóng “bắt chước” theo tiệm Hòa Mã và tiếp tục cải tiến món ăn này. Người Việt thật giỏi giang và sáng tạo, bạn nhỉ?
Vào đầu năm 1970, ngành lương thực ở Hà Nội thường xuyên cấp bánh mì cho mỗi gia đình. Tùy theo số nhân khẩu mà người ta quy định lượng bánh mà mỗi gia đình nhận theo tháng.
Cùng thời điểm ấy, chính quyền Sài Gòn cho phép bánh mì xuất hiện trong các bữa ăn của học sinh Tiểu học và xây dựng các lò nướng bằng gạch truyền thống. Khi ấy, bánh mì thực sự du nhập vào văn hóa Việt Nam và bắt đầu bùng nổ, đặt dấu mốc lịch sử của bánh mì Việt.
Các lò nướng bánh mì bằng củi dần được thay thế bằng lò gạch lớn để người ta có thể nướng được nhiều bánh cùng lúc. Và rồi đến năm 1975, những lò bánh mì điện đầu tiên bắt đầu xuất hiện tại Việt Nam. Với lò điện, người có thể cho ra những mẻ bánh lớn đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng của người tiêu dùng.
3. Tên của bánh mì trong từ điển nước ngoài
Bạn có từng thắc mắc chiếc bánh mì trong Tiếng Anh được đọc như thế nào không? Khi còn học Tiểu học, mình cứ nghĩ “bánh mì” sẽ được dịch là “bread”, hay “cà phê” sẽ được dịch là “coffee”. Thế nhưng cô giáo lại giải thích rằng “bánh mì” được dịch sang Tiếng Anh là “banh mi”. Trong từ điển Oxford, “banh mi” có nghĩa là một loại bánh trong ẩm thực Việt Nam.
Bên cạnh đó, các từ như “ao dài” (áo dài) và “pho” (phở) – món ăn được thế giới vinh danh cũng được giữ nguyên tên gọi như thế. Thật tự hào làm sao!

Khi đã hiểu được các câu chuyện nằm sau chiếc bánh mì ấy, mình càng trân trọng hơn văn hóa ẩm thực Việt Nam. Đồng thời, mình cũng ngưỡng mộ cách mà người Việt trân quý và sáng tạo nên chiếc bánh mì thời nay nữa. Mỗi lần nghe tiếng rao bánh mì rao đi ngang qua nhà “Bánh mì Sài Gòn, hai ngàn một ổ!”, mình lại nhớ đến lịch sử của bánh mì và thêm yêu nét đẹp văn hóa ẩm thực Việt.
Mình còn chia sẻ các câu chuyện khác về ẩm thực ở huynhngoc.com, bạn có thể ghé đọc nha!